CÁC TÁC DỤNG PHỤ TRONG ĐIỀU TRỊ XẠ TRỊ UNG THƯ VÚ

12/03/2019

          Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới với khoảng gần 1,7 triệu phụ nữ mắc và hơn 500 nghìn phụ nữ tử vong hàng năm trên toàn cầu. Tại Việt Nam, mỗi năm cũng có khoảng 11 nghìn phụ nữ mắc ung thư vú và 5 nghìn người tử vong do căn bệnh này. Điều trị ung thư vú là sự phối hợp của nhiều phương pháp điều trị và tùy theo từng giai đoạn, từng thể mô học mà các biện pháp áp dụng là khác nhau: phẫu thuật, hóa chất, xạ trị, điều trị nội tiết, điều trị đích…..Trong các phương pháp điều trị ung thư vú thì xạ trị thường được chỉ định khá nhiều, áp dụng cho: các khối u kích thước lớn, khối u có xâm lấn da, khối u di căn hạch vùng và áp dụng ngay cả cho những trường hợp giai đoạn sớm bệnh nhân được phẫu thuật bảo tồn tuyến vú. Lợi ích của xạ trị nhằm hạn chế tối đa sự tái phát tại chỗ, tại vùng của bệnh. Đi cùng với những tác dụng chính thì những tác dụng phụ có thể gặp ở các bệnh nhân mà vấn đề này là câu hỏi của đa số các bệnh nhân khi bắt đầu được tiến hành điều trị xạ trị:

       Mệt mỏi: đây  là tác dụng phụ thường gặp đối với các bệnh nhân điều trị ung thư, nguyên nhân của mệt mỏi chưa được xác định một cách chính xác. Tuy nhiên, các triệu chứng này có thể kết hợp với các nguyên nhân được xác định như: thiếu máu, suy dinh dưỡng, đau, các thuốc uống kết hợp quá trình xạ trị… Bệnh nhân cần được sự tư vấn của các bác sỹ chuyên khoa để làm khám và làm các xét nghiệm nhằm loại trừ các nguyên nhân trên và có cách xử lý thích hợp. Mệt mỏi nhiều bệnh nhân có thể sẽ phải dừng quá trình xạ một thời gian để hồi phục sức khỏe sau đó sẽ tiếp tục xạ trị. Tập thể dục từ nhẹ đến vừa kèm với giai đoạn nghỉ ngơi thường xuyên có thể là một phần trong chương trình làm giảm mệt mỏi. Thời gian nghỉ để hồi phục sức khỏe sẽ không ảnh hưởng quá nhiều đến chất lượng điều trị xạ trị.

        Nôn, buồn nôn: bệnh nhân khi mới tiếp xúc với tia xạ có thể cảm thấy chếnh choáng, cảm giác buồn nôn, có thể nôn. Các triệu chứng này thường gặp ở các bệnh nhân mẫn cảm với tia xạ. Triệu chứng này thường sẽ hết sau khoảng 3-5 ngày (hoặc có thể lâu hơn). Khi xuất hiện triệu chứng, bệnh nhân nên báo với bác sỹ để có được lời tư vấn và điều chỉnh hợp lý trong quá trình xạ trị. Nên uống nhiều nước trong ngày. Khi triệu chứng xuất hiện nhiều hơn, không cải thiện bệnh nhân cần gặp bác sỹ ngay để loại trừ các nguyên nhân khác.

         Viêm da do xạ trị: Hiện nay, bằng các kỹ thuật xạ trị hiện đại thì da có thể ít bị tổn thương do hầu hết liều xạ trị được đưa vào dưới bề mặt da. Nhưng đối với điều trị xạ trị trong ung thư vú, việc xảy ra các tác dụng phụ trên da hầu như không thể tránh khỏi. Vị trí da thường bị viêm do xạ trị là da diện thành ngực, da vùng trên đòn, da vùng nách. Đặc biêt, da vùng nách hay gặp tổn thương nặng hơn những vị trí khác là do sự ẩm ướt và sự cọ xát tại vùng này. Trong vòng 2 tuần đầu điều trị, bạn có thể cảm thấy  da đỏ nhẹ. Da có thể trở nên mềm và nhạy cảm. Triệu chứng khô da và lột da có thể xuất hiện trong 3, 4 tuần sau; màu sắc da thay đổi trở nên sẫm hơn. Điều này là do tác dụng của phóng xạ trên các tế bào sản xuất sắc tố của da. Nặng hơn, bề mặt da có thể chảy nước hoặc hoại tử. Nhằm hạn chế tối đa các triệu chứng trên, bệnh nhân nên mặc cho mình những áo quần mỏng, rộng không bó sát cơ thể, thấm mồ hôi tốt và hạn chế tối đa tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Vị trí tia xạ hằng ngày nên bôi các loại kem chứa các thành phần làm ẩm da, dầu lô hội, lanolin hoặc vitamin E. Đặc biệt, với người Việt Nam việc sử dụng lá chè xanh đun nước hằng ngày để vệ sinh vùng xạ cũng có những ý nghĩa nhất định trong việc giảm tác dụng phụ của tia xạ.Trước khi dùng bất kỳ sản phẩm nào trên da trong khi điều trị, hãy hỏi ý kiến bác sĩ xạ trị xem chúng có an toàn không. Tránh dùng nước hoa, chất khử mùi và thuốc bôi trên da có chứa cồn hoặc nước hoa. Khoảng 4-5 tuần sau điều trị, một số bệnh nhân xạ trị có thể cảm thấy bị lột da và chảy nước ở khu vực điều trị. Đây là tác dụng phụ xảy ra khá nặng, nếu như không được điều trị có thể xảy ra loét và hoại tử da, với tình trạng này bạn nên thông báo với bác sỹ của mình để có được những biện pháp hỗ trợ tích cực.

 

Viêm da do xạ trị - tình trạng viêm da khô (viêm da độ I)

Viêm da do xạ trị khi da nổi các nốt ban phồng rộp, dễ chảy máu khi  va chạm ( viêm da độ 3)

 

         Những tác dụng phụ về lâu dài tại vùng da xạ trị có thể là làm mỏng da, màu sắc da thay đổi không hồi phục, da trở nên cứng, thiểu dưỡng da do các mạch máu nuôi bị xơ hóa, chậm lành các vết thương ở những vùng tiếp xúc với tia xạ. Những tác dụng phụ này thường xảy ra sau 1-2 năm sau điều trị và kéo dài hơn. Các kỹ thuật xạ trị hiện đại ngày nay sẽ là chìa khóa giúp giảm bớt các tác dụng phụ này:

 

Xạ trị điều biến liều trong điều trị ung thư vú giúp hạn chế các tác dụng phụ không mong muốn trong điều trị

Máy xạ trị hiện đại có thể thực hiện được nhiều kỹ thuật phức tạp góp phần điều trị tốt và hạn chế tác dụng phụ của điều trị

 

       Phổi: khi xạ trị ung thư vú, phổi cũng bị ảnh hưởng một phần, đặc biệt là vùng đỉnh phổi và phần phổi ngoại vi có liên quan trong quá trình xạ trị. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng của phổi trong xạ trị ung thư vú thường ít gặp.Một thay đổi sớm có thể gặp là giảm lượng surfactant, là một chất của phổi giúp đường dẫn khí được mở thông thoáng. Giảm surfactant làm cho phổi không thể nở ra hết mức được gây thở ngắn hoặc ho. Bệnh nhân thường ho khan, ho liên tục tăng dần. Những triệu chứng này cần được bác sỹ tư vấn và điều trị, đôi khi phải sử dụng cả corticoid và thuốc giảm ho. Tác dụng phụ khác có thể xảy ra khi xạ trị ở phổi là xơ hóa phổi  làm giảm khả năng giãn nở và thu nhận khí của phổi. Nếu một vùng lớn của phổi tiếp xúc với phóng xạ, những thay đổi này có thể gây thở ngắn và kém thích nghi với những hoạt động thể lực. Hiện tượng này có thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm sau khi kết thúc điều trị.Xơ hóa phổi ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng sống của bệnh nhân ung thư vú rất ít gặp. Bệnh nhân cần thông tin và hỏi tư vấn của các bác sỹ điều trị khi xuất hiện các triệu chứng trên.

 

Viêm phổi xảy ra sau điều trị xạ trị- vị trí viêm phổi tại đúng trường chiếu của xạ trị ( Ảnh nguồn Internet)

 

        Phù tay voi: ở những bệnh nhân điều trị ung thư vú có phẫu thuật tại vùng ngực và vét hạch nách thì hệ bạch huyết tại đây đã bị ảnh hương. Đặc biệt, cho những trường hợp có hạch nách di căn, việc áp dụng các biện pháp điều trị nhằm hạn chế tái phát sẽ cần làm triệt để và rộng rãi. Xạ trị thường được áp dụng cho các trường hợp này. Cũng vì lẽ đó mà hệ bạch huyếtbị ảnh hưởng cộng gộp trở nên xơ hóa, dẫn lưu bạch huyết của cánh tay bên bệnh sẽ bị ứ trệ. Triệu chứng này có thể gặp ngay sau điều trị hoặc sau nhiêu năm. Bệnh nhân sẽ thấy: Sưng, căng, nặng nề ở ngực, cánh tay, hoặc bàn tay ở phía bên bị bệnh. Thay đổi cấu trúc da, độ căng da, da nóng và đỏ. Nhức hoặc đau ở vùng bị ảnh hưởng, cử động các khớp khó khăn. Chỗ đeo nhẫn, đồng hồ và vòng đeo tay bị chặt…..Khi có các triệu chứng trên cần đi khám ngay và cần được điều trị. Việc phòng tránh biến chứng này bệnh nhân cần có các bài tập thích hợp cho vùng tay và ngực đã can thiệp phẫu thuật và xạ trị, các bài massage nhằm mục đích làm giảm ứ trệ bạch huyết vùng cánh tay nên được áp dụng sớm. Cần nhất vẫn là sự tư vấn và điều trị cụ thể từ bác sỹ của bạn.

 

Tay bị bệnh có kích thước lớn hơn tay lành, ứ trệ lưu thông của dịch bạch huyết vùng cánh tay do việc điều trị gây tổn thương của hệ bạch huyết.(nguồn Internet)

 

          Các tác dụng phụ hiếm gặp khác: gãy xương do xương sườn suy yếu, chức năng tim suy giảm do xạ trị vùng ngực trái, xơ hóa khớp vai - cánh tay…. Tốt nhất, khi gặp những tác dụng phụ trên, bạn nên đi khám ngay chuyên khoa ung bướu để có sự hỗ trợ tốt nhất từ nhân viên Y tế.

Sách tham khảo: Acute side effects of radiation therapy- Ainaz Sourati

Theo BS. Đỗ Tất Cường - Khoa Xạ trị, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội